Hiển thị các bài đăng có nhãn C. Bài giảng xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn C. Bài giảng xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

TRỌN BỘ NIÊN GIÁM THỐNG KÊ TỈNH THÀNH NĂM 2017, 2018, 2019, 2020, 2021, 2022, 2023, 2024, 2025, 2026 (FULL) (Update liên tục)



Niên giám thống kê của 63 tỉnh, thành phố là ấn phẩm được các Cục Thống kê phát hành hàng năm. Nội dung bao gồm những số liệu cơ bản phản ánh khái quát động thái tình hình kinh tế - xã hội của từng địa phương qua các năm.



Niên giám thống kê của 63 tỉnh, thành phố là ấn phẩm được các Cục Thống kê phát hành hàng năm. Nội dung bao gồm những số liệu cơ bản phản ánh khái quát động thái tình hình kinh tế - xã hội của từng địa phương qua các năm.




M_tả

M_tả

Quyết định GĐT về khiếu kiện quyết định thu hồi đất số 05/2019/HC-GĐT

 



TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 05/2019/HC-GĐT NGÀY 28/05/2019 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH THU HỒI ĐẤT

Ngày 28/5/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm vụ án hành chính giữa:

Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn Th1; Địa chỉ: Xóm A, thôn B, xã C, huyện D, thành phố Hà Nội;

Ni bị kiện: Uỷ ban nhân huyện D, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn Th2;

2. Ông Nguyễn Văn B (L);

3. Bà Nguyễn Thị L;

4. Anh Nguyễn Văn Ch;

5. Anh Nguyễn Văn Q.

Cùng trú tại địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện D, thành phố Hà Nội;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Năm 1991, cụ Nguyễn Văn T (bố đẻ ông Nguyễn Văn B) được Uỷ ban nhân dân xã C xét duyệt cấp 118m2 đất, thửa đất số 151 sử dụng vào mục đích đất ở trong tổng số 10.000m2 đất tại xã C đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tây cũ giao để cấp đất giãn dân, khi đó cụ T đã nộp 1 phần tiền sử dụng đất.

Ngày 20/5/2004, ông Nguyễn Văn B đã chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn Th1 diện tích đất này, ông Th1 đã nộp nốt số tiền còn lại là 1.449.000đ vài ngân sách xã C và sử dụng diện tích 118m2 đất, cho đến nay gia đình ông Th1 cũng không có tranh chấp với gia đình ông B.

Năm 1988, bố đẻ ông (Th1) là cụ Nguyễn Văn Ph đã xây tường kè, đổ đất vào diện tích “Ao ông Trượi” và sử dụng liên tục cho đến nay và không có tranh chấp (tại thửa đất số 201, 202 theo bản đồ đo vẽ năm 2002). Ngày 22/3/2004 ông Th1 đã được Uỷ ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 201 có diện tích 118,9m2 trong diện tích đất gia đình ông sử dụng; thửa đất số 202 có diện tích 99m2 đã có tên trong bản đồ và sổ theo dõi quyền sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân xã quản lý và cũng không có tranh chấp với ai.

Năm 2009 gia đình ông Th1 đã xây dựng ngôi nhà 3 tầng trên toàn bộ 03 thửa đất gia đình sử dụng. Quá trình xây dựng nhà gia đình ông không bị Uỷ ban nhân dân xã hoặc cơ quan chức năng xử lý về hành vi vi phạm gì. Từ khi hình thành khu dân cư đến nay, ở khu vực đất gia đình ông sử dụng không có bất cứ ngõ đi nào.

Từ năm 2005, 2006 một số công dân ở cùng thôn đã có đơn tố cáo ông lấn chiếm đất ngõ đi và đề nghị thu hồi 27,4m2 đất của gia đình ông. Thực tế ông không có hành vi lấn chiếm, quá trình sử dụng cũng không bị lập biên bản xử lý hành chính về hành vi chiếm đất; phần đất mà các hộ dân đòi mở ngõ qua đất nhà ông không phải là ngõ đi hình thành từ khi cấp đất giãn dân cho các hộ.

Ngày 27/7/2007, UBND huyện D ban hành quyết định 565/QĐ-UBND thu hồi 27,4m2 đất của ông Th1 tại xóm A, thôn B, xã C để làm ngõ đi chung.

Ngày 28/7/2008, Uỷ ban nhân dân huyện D ban hành Quyết định số 550/QĐ-UBND về việc thu hồi Quyết định số 565/QĐ-UBND ngày 27/7/20097 của Ủy ban nhân dân huyện D.

Ngày 9/3/2010, Uỷ ban nhân dân huyện D ban hành Thông báo số 14/TB- UBND về kết quả giải quyết tố cáo liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Th1 và ông Nguyễn Văn B. Thông báo có nội dung: Giao Uỷ ban nhân dân xã C: lập hồ sơ trình Uỷ ban nhân dân huyện xem xét, xử lý theo hướng hợp thức hóa quyền sử dụng đất theo Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ đối với:

- Hộ ông Nguyễn Văn Th1 đối với diện tích 118 m2 đt nhận chuyển nhượng trái phép từ ông Nguyễn Văn B trong thửa số 151 tờ bản đồ số 03 xã C đo vẽ năm 2002.

- Hộ ông Nguyễn Văn Th2 đối với diện tích 99m2 tại thửa số 202 tờ bản đồ số 03 xã C đo vẽ năm 2002.

Ngày 31/5/2011, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Thông báo số 136/TB-UBND về kết quả xác minh, kết luận đơn tố cáo của 1 số công dân xóm A, thôn B, xã C, huyện D, thành phố Hà Nội. Nội dung thông báo thể hiện:

- Giao Uỷ ban nhân dân huyện D hủy bỏ phần 2.1 mục 2 xử lý về đất đai tại Thông báo số 14/TB-UBND ngày 09/3/2010 của UBND huyện D.

- Ban hành quyết định thu hồi diện tích đất UBND xã C quy hoạch làm ngõ đi chung mà gia đình ông Th1 đã lấn chiếm.

- Liên hệ với Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở quy hoạch kiến trúc làm rõ quy hoạch trong khu vực, có phương án xử lý đối với diện tích còn lại gia đình ông Nguyễn Văn Th1 đang sử dụng, trình Uỷ ban nhân dân thành phố quyết định.

Ngày 29/11/2011, Uỷ ban nhân dân huyện D đã ban hành quyết định số 596/QĐ-UBND về việc thu hồi 27,4m2 đất (trong đó có 14,3 m2 giáp thửa đất 151 và 13,1 m2 giáp thửa đất số 202 tờ bản đồ số 03 của Uỷ ban nhân dân xã C đo vẽ năm 2002) của hộ gia đình ông Nguyễn Văn Th1 đang sử dụng tại xóm A, thôn B, xã C, huyện D và yêu cầu ông Th1 tháo dỡ toàn bộ công trình đã xây dựng trên diện tích đất bị thu hồi.

Ngày 09/01/2012, ông Nguyễn Văn Th1 khởi kiện đề nghi Tòa án hủy Quyết định số 596/QĐ-UBND ngày 29/11/2011 của Uỷ ban nhân dân huyện D vì cho rằng Quyết định số 596/QĐ-UBND là quyết định thu hồi trái với Nghị định, pháp luật về đất đai, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2013/HC-ST ngày 24/9/2013 Tòa án nhân dân huyện D, thành phố Hà Nội đã bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Th1.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 63/2014/HCPT ngày 29/5/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2013/HC-ST ngày 24/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện D và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Th1, hủy Quyết định số 596/QĐ-UBND ngày 29/11/2011 của Uy ban nhân dân huyện D về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Văn Th1.

Ngày 5/8/2016, ông Nguyễn Văn A, Ngô Văn M, Ngô Văn B, Ngô Văn U có đơn khiếu nại gửi Tòa án nhân dân tối cao với nội dung đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc thẩm 63/2014/HCPT ngày 29/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Ngày 18/01/2019, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Kháng nghị số 02/2019/KN-HC, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm theo hướng: Hủy bản án hành chính phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2013/HC-ST ngày 24/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện D, thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tại thửa đất số 151:

[2] Năm 1991 cụ Nguyễn Văn T (bố của ông Nguyễn Văn B) được Uỷ ban nhân dân xã C hợp thức hóa 50m2 đất ao liền kề ở của gia đình cụ. Cụ T đã nộp 130.000 đồng bằng 100kg thóc. Sau đó, ông Ngô Văn M là hàng xóm lấn chiếm diện tích đất này, nên năm 1996 Uỷ ban nhân dân xã C đã thống nhất cấp cho cụ T 01 suất đất ở Ao ông Trượi có diện tích 118m2 theo Quyết định số 540/QĐ-UBND ngày 31/11/1994 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây cũ (Quyết định giao 10.000m2 đất tại xã C cho Ủy ban nhân dân huyện D chuyển thành đất thổ cư giải quyết cho các hộ dân xã C làm nhà ở). Cụ T chết năm 1992, nên trong Biên bản tạm thời giao đất ở ghi tên ông Nguyễn Văn B, diện tích đất được giao có kích thước và vị trí tứ cận “phía Đông dài 9,1m giáp đất ông Ch, phía Tây dài 9,1m giáp đất bà Ch, phía Nam dài 13,4m giáp đất ông Th1 và phía Bắc dài 12,7m giáp đất ông L cộng Ngõ; diện tích ngõ đi chung của 3 hộ ông L, Đ, B có chiều dài 22m và rộng 2m”. Tuy nhiên, ông B chưa nộp nốt số tiền của diện tích đất là 68m2 nên Uỷ ban nhân dân xã C chưa giao đất và chưa giao Biên bản bàn giao đất cho ông B.

[3] Ngày 20/5/2004, vợ chồng ông B và ông Th1 xác lập giấy chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho ông Th1. Ngày 30/7/2004, ông Th1 đã nộp nốt số tiền 1.449.000 đồng vào Ngân sách xã C. Uỷ ban nhân dân xã C đã chấp nhận cho ông Th1nộp nốt số tiền gia đình ông B còn thiếu trên để nộp trả ngân sách xã là thể hiện ý chí của Uỷ ban nhân dân xã đã chấp nhận việc cấp đất giãn dân cho gia đình ông B và gia đình ông B là bên sử dụng đất đã nộp đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Thửa đất này đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[4] Ông B và Ông Th1 có lời khai khi cấp đất không có ngõ đi về phía khu đất, nên ông B đã bán cho ông Th1 diện tích đất này năm 2004. Giữa ông B và ông Th1 nay không có tranh chấp về quyền sử dụng đất. Do đó, có cơ sở khẳng định tại thời điểm giao đất tạm thời cho ông B vì thực địa đất là ao nên chưa có lối đi chung.

[5] Theo trích lục Bản đồ địa chính đo vẽ năm 2002 cho thấy, tiếp giáp giữa các Thửa đất số 151, 201, 202 với các thửa đất của các hộ liền kề là 1 khoảng trống. Theo kết quả xác minh ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện D xác định lối đi theo Bản đồ 2002 là do thôn tự lập, quy hoạch kẻ vẽ còn thực tế từ trước đó cho đến năm 2002 và cho đến nay chưa bao giờ có lối đi trên; ngõ đi chung của 03 hộ ông L, ông Đ, ông B có chiều dài 22m, rộng 02m chỉ thể hiện trên bản đồ 2002 và Bản đồ năm 2002 chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, từ trước đến nay cũng chưa xác định vị trí, kích thước, mốc giới của ngõ đi chung dài 22m, rộng 02m nêu trên. Điều này cho thấy địa phương cũng đã có quy hoạch tạo ngõ đi chung giữa các thửa đất nêu trên.

[6] Theo sơ đồ do Tòa án nhân dân huyện D lập ngày 10/7/2013 thì hộ gia đình ông Th1 đang sử dụng diện tích, kích thước đúng như diện tích, kích thước được tạm giao cho ông B năm 1996. Vì vậy, không có cơ sở khẳng định ông Th1có hành vi lấn chiếm đất công 14,3m2 được quy hoạch làm ngõ đi. Ngày 29/11/2011, Ủy ban nhân dân huyện D ban hành Quyết định số 596/QĐ-UBND thu hồi 14,3m2 giáp thửa đất số 151, buộc ông Th1 tháo dỡ công trình đã xây dựng trên đất mà không bồi thường về đất và tài sản trên đất cho hộ gia đình ông Th1là không đúng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông Th1. Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy Quyết định số 596/QĐ-UBND về phần này là có căn cứ.

[7] Đối với thửa đất số 201 và thửa đất số 202:

[8] Cụ Nguyễn Văn Ph (cha của ông Th1) xây kè, đổ đất và sử dụng 1 phần diện tích ao ông Trượu (đất ao công) từ khoảng năm 1987 -1988.

[9] Năm 1992, ông Th1 được Ủy ban nhân dân xã C hợp thức hóa phần diện tích 115m2 đất thuộc khu vực gia đình đang sử dụng theo Quyết định số 63/QĐ-UB ngày 01/03/1989 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Sơn Bình (cũ). Ông Th1cho rằng phần đất này ông được cụ Ph tặng cho bằng miệng, còn phần đất ông được cấp là thuộc thửa đất số 202 nhưng ông Th1 không xuất trình được chứng cứ chứng minh. Ngày 22/3/2004, Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Th1với thửa đất số 201, diện tích 118,9m2; còn thửa đất số 202 đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo bản đồ năm 2002 thì diện tích đất 99 m2 thuc thửa số 202 đứng tên ông Nguyễn Văn Th2 (em trai ông Th1); phần diện tích đất này chính là phần còn lại của tổng diện tích mà cụ Ph đã xây kè bao chiếm từ năm 1987-1988 trừ đi phần diện tích mà Uỷ ban nhân dân xã C đã cấp cho ông Th1. Theo sơ đồ do Tòa án nhân dân huyện D lập ngày 10/7/2013, Thửa đất số 202 có diện tích 112,2m2, nhiều hơn so với diện tích 99m2 được ghi trong Trích lục Bản đồ 2002 là 13,2m2. Do vậy, Uỷ ban nhân dân huyện D thu hồi diện tích này để quy hoạch làm ngõ đi chung là có cơ sở.

[10] Tuy nhiên, ông Th1 xây dựng các công trình trên đất không có giấy phép, không bị xử lý vi phạm về hành vi lấn, chiếm đất, xây dựng công trình trái phép; chính quyền địa phương biết và cũng không ban hành văn bản xử lý vi phạm nên cần phải làm rõ trong trường hợp này thì hộ gia đình ông Th1 khi bị thu hồi đất có được bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản trên đất hay không?

[11] Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông Th1 và Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng trong quá trình sử dụng thửa đất số 202, gia đình ông Th1 không có tranh chấp với ai và cũng không bị xử lý vi phạm hành chính do hành vi lấn, chiếm đất, ngoài việc đo vẽ năm 2002 có hình thành khoảng trống được coi là ngõ thì không còn căn cứ nào khác để xác định ở vị trí này đã được quy hoạch làm ngõ đi chung nên xác định gia đình ông Th1 không có hành vi lấn, chiếm đất công là chưa phản ánh đầy đủ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên hủy Quyết định số 596/QĐ-UBND ngày 29/11/2011 của Uỷ ban nhân dân huyện D về lý do này là chưa đảm bảo chặt chẽ.

[12] Trên thực tế lối đi chung giữa các thửa đất mà hộ gia đình ông Th1 đang quản lý, sử dụng với các thửa đất liền kề chưa được quy hoạch bởi cấp có thẩm quyền mà mới chỉ được thể hiện trong Bản đồ địa chính đo vẽ năm 2002 nêu trên. Hiện nay các hộ dân tại xóm A, thôn B tiếp tục có khiếu nại. Trong trường hợp này cần thiết phải tổ chức để cho các bên đối thoại, làm rõ các vấn đề nêu trên thì mới đảm bảo giải quyết vụ án đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 272, Điều 274 Luật tố tụng hành chính năm 2015;

1. Chấp nhận Kháng nghị số 02/2019/KN-HC ngày 18/01/2019 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

2. Hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 63/2014/HCPT ngày 29/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2013/HCST ngày 24/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện D, thành phố Hà Nội, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.


Lược đồ:












LINK DOWNLOAD

 



TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 05/2019/HC-GĐT NGÀY 28/05/2019 VỀ KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH THU HỒI ĐẤT

Ngày 28/5/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm vụ án hành chính giữa:

Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn Th1; Địa chỉ: Xóm A, thôn B, xã C, huyện D, thành phố Hà Nội;

Ni bị kiện: Uỷ ban nhân huyện D, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn Th2;

2. Ông Nguyễn Văn B (L);

3. Bà Nguyễn Thị L;

4. Anh Nguyễn Văn Ch;

5. Anh Nguyễn Văn Q.

Cùng trú tại địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện D, thành phố Hà Nội;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Năm 1991, cụ Nguyễn Văn T (bố đẻ ông Nguyễn Văn B) được Uỷ ban nhân dân xã C xét duyệt cấp 118m2 đất, thửa đất số 151 sử dụng vào mục đích đất ở trong tổng số 10.000m2 đất tại xã C đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tây cũ giao để cấp đất giãn dân, khi đó cụ T đã nộp 1 phần tiền sử dụng đất.

Ngày 20/5/2004, ông Nguyễn Văn B đã chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn Th1 diện tích đất này, ông Th1 đã nộp nốt số tiền còn lại là 1.449.000đ vài ngân sách xã C và sử dụng diện tích 118m2 đất, cho đến nay gia đình ông Th1 cũng không có tranh chấp với gia đình ông B.

Năm 1988, bố đẻ ông (Th1) là cụ Nguyễn Văn Ph đã xây tường kè, đổ đất vào diện tích “Ao ông Trượi” và sử dụng liên tục cho đến nay và không có tranh chấp (tại thửa đất số 201, 202 theo bản đồ đo vẽ năm 2002). Ngày 22/3/2004 ông Th1 đã được Uỷ ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 201 có diện tích 118,9m2 trong diện tích đất gia đình ông sử dụng; thửa đất số 202 có diện tích 99m2 đã có tên trong bản đồ và sổ theo dõi quyền sử dụng đất do Uỷ ban nhân dân xã quản lý và cũng không có tranh chấp với ai.

Năm 2009 gia đình ông Th1 đã xây dựng ngôi nhà 3 tầng trên toàn bộ 03 thửa đất gia đình sử dụng. Quá trình xây dựng nhà gia đình ông không bị Uỷ ban nhân dân xã hoặc cơ quan chức năng xử lý về hành vi vi phạm gì. Từ khi hình thành khu dân cư đến nay, ở khu vực đất gia đình ông sử dụng không có bất cứ ngõ đi nào.

Từ năm 2005, 2006 một số công dân ở cùng thôn đã có đơn tố cáo ông lấn chiếm đất ngõ đi và đề nghị thu hồi 27,4m2 đất của gia đình ông. Thực tế ông không có hành vi lấn chiếm, quá trình sử dụng cũng không bị lập biên bản xử lý hành chính về hành vi chiếm đất; phần đất mà các hộ dân đòi mở ngõ qua đất nhà ông không phải là ngõ đi hình thành từ khi cấp đất giãn dân cho các hộ.

Ngày 27/7/2007, UBND huyện D ban hành quyết định 565/QĐ-UBND thu hồi 27,4m2 đất của ông Th1 tại xóm A, thôn B, xã C để làm ngõ đi chung.

Ngày 28/7/2008, Uỷ ban nhân dân huyện D ban hành Quyết định số 550/QĐ-UBND về việc thu hồi Quyết định số 565/QĐ-UBND ngày 27/7/20097 của Ủy ban nhân dân huyện D.

Ngày 9/3/2010, Uỷ ban nhân dân huyện D ban hành Thông báo số 14/TB- UBND về kết quả giải quyết tố cáo liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Th1 và ông Nguyễn Văn B. Thông báo có nội dung: Giao Uỷ ban nhân dân xã C: lập hồ sơ trình Uỷ ban nhân dân huyện xem xét, xử lý theo hướng hợp thức hóa quyền sử dụng đất theo Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ đối với:

- Hộ ông Nguyễn Văn Th1 đối với diện tích 118 m2 đt nhận chuyển nhượng trái phép từ ông Nguyễn Văn B trong thửa số 151 tờ bản đồ số 03 xã C đo vẽ năm 2002.

- Hộ ông Nguyễn Văn Th2 đối với diện tích 99m2 tại thửa số 202 tờ bản đồ số 03 xã C đo vẽ năm 2002.

Ngày 31/5/2011, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Thông báo số 136/TB-UBND về kết quả xác minh, kết luận đơn tố cáo của 1 số công dân xóm A, thôn B, xã C, huyện D, thành phố Hà Nội. Nội dung thông báo thể hiện:

- Giao Uỷ ban nhân dân huyện D hủy bỏ phần 2.1 mục 2 xử lý về đất đai tại Thông báo số 14/TB-UBND ngày 09/3/2010 của UBND huyện D.

- Ban hành quyết định thu hồi diện tích đất UBND xã C quy hoạch làm ngõ đi chung mà gia đình ông Th1 đã lấn chiếm.

- Liên hệ với Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở quy hoạch kiến trúc làm rõ quy hoạch trong khu vực, có phương án xử lý đối với diện tích còn lại gia đình ông Nguyễn Văn Th1 đang sử dụng, trình Uỷ ban nhân dân thành phố quyết định.

Ngày 29/11/2011, Uỷ ban nhân dân huyện D đã ban hành quyết định số 596/QĐ-UBND về việc thu hồi 27,4m2 đất (trong đó có 14,3 m2 giáp thửa đất 151 và 13,1 m2 giáp thửa đất số 202 tờ bản đồ số 03 của Uỷ ban nhân dân xã C đo vẽ năm 2002) của hộ gia đình ông Nguyễn Văn Th1 đang sử dụng tại xóm A, thôn B, xã C, huyện D và yêu cầu ông Th1 tháo dỡ toàn bộ công trình đã xây dựng trên diện tích đất bị thu hồi.

Ngày 09/01/2012, ông Nguyễn Văn Th1 khởi kiện đề nghi Tòa án hủy Quyết định số 596/QĐ-UBND ngày 29/11/2011 của Uỷ ban nhân dân huyện D vì cho rằng Quyết định số 596/QĐ-UBND là quyết định thu hồi trái với Nghị định, pháp luật về đất đai, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2013/HC-ST ngày 24/9/2013 Tòa án nhân dân huyện D, thành phố Hà Nội đã bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Th1.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 63/2014/HCPT ngày 29/5/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2013/HC-ST ngày 24/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện D và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Th1, hủy Quyết định số 596/QĐ-UBND ngày 29/11/2011 của Uy ban nhân dân huyện D về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Văn Th1.

Ngày 5/8/2016, ông Nguyễn Văn A, Ngô Văn M, Ngô Văn B, Ngô Văn U có đơn khiếu nại gửi Tòa án nhân dân tối cao với nội dung đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc thẩm 63/2014/HCPT ngày 29/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Ngày 18/01/2019, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Kháng nghị số 02/2019/KN-HC, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm theo hướng: Hủy bản án hành chính phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2013/HC-ST ngày 24/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện D, thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tại thửa đất số 151:

[2] Năm 1991 cụ Nguyễn Văn T (bố của ông Nguyễn Văn B) được Uỷ ban nhân dân xã C hợp thức hóa 50m2 đất ao liền kề ở của gia đình cụ. Cụ T đã nộp 130.000 đồng bằng 100kg thóc. Sau đó, ông Ngô Văn M là hàng xóm lấn chiếm diện tích đất này, nên năm 1996 Uỷ ban nhân dân xã C đã thống nhất cấp cho cụ T 01 suất đất ở Ao ông Trượi có diện tích 118m2 theo Quyết định số 540/QĐ-UBND ngày 31/11/1994 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây cũ (Quyết định giao 10.000m2 đất tại xã C cho Ủy ban nhân dân huyện D chuyển thành đất thổ cư giải quyết cho các hộ dân xã C làm nhà ở). Cụ T chết năm 1992, nên trong Biên bản tạm thời giao đất ở ghi tên ông Nguyễn Văn B, diện tích đất được giao có kích thước và vị trí tứ cận “phía Đông dài 9,1m giáp đất ông Ch, phía Tây dài 9,1m giáp đất bà Ch, phía Nam dài 13,4m giáp đất ông Th1 và phía Bắc dài 12,7m giáp đất ông L cộng Ngõ; diện tích ngõ đi chung của 3 hộ ông L, Đ, B có chiều dài 22m và rộng 2m”. Tuy nhiên, ông B chưa nộp nốt số tiền của diện tích đất là 68m2 nên Uỷ ban nhân dân xã C chưa giao đất và chưa giao Biên bản bàn giao đất cho ông B.

[3] Ngày 20/5/2004, vợ chồng ông B và ông Th1 xác lập giấy chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho ông Th1. Ngày 30/7/2004, ông Th1 đã nộp nốt số tiền 1.449.000 đồng vào Ngân sách xã C. Uỷ ban nhân dân xã C đã chấp nhận cho ông Th1nộp nốt số tiền gia đình ông B còn thiếu trên để nộp trả ngân sách xã là thể hiện ý chí của Uỷ ban nhân dân xã đã chấp nhận việc cấp đất giãn dân cho gia đình ông B và gia đình ông B là bên sử dụng đất đã nộp đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Thửa đất này đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[4] Ông B và Ông Th1 có lời khai khi cấp đất không có ngõ đi về phía khu đất, nên ông B đã bán cho ông Th1 diện tích đất này năm 2004. Giữa ông B và ông Th1 nay không có tranh chấp về quyền sử dụng đất. Do đó, có cơ sở khẳng định tại thời điểm giao đất tạm thời cho ông B vì thực địa đất là ao nên chưa có lối đi chung.

[5] Theo trích lục Bản đồ địa chính đo vẽ năm 2002 cho thấy, tiếp giáp giữa các Thửa đất số 151, 201, 202 với các thửa đất của các hộ liền kề là 1 khoảng trống. Theo kết quả xác minh ngày 15/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện D xác định lối đi theo Bản đồ 2002 là do thôn tự lập, quy hoạch kẻ vẽ còn thực tế từ trước đó cho đến năm 2002 và cho đến nay chưa bao giờ có lối đi trên; ngõ đi chung của 03 hộ ông L, ông Đ, ông B có chiều dài 22m, rộng 02m chỉ thể hiện trên bản đồ 2002 và Bản đồ năm 2002 chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, từ trước đến nay cũng chưa xác định vị trí, kích thước, mốc giới của ngõ đi chung dài 22m, rộng 02m nêu trên. Điều này cho thấy địa phương cũng đã có quy hoạch tạo ngõ đi chung giữa các thửa đất nêu trên.

[6] Theo sơ đồ do Tòa án nhân dân huyện D lập ngày 10/7/2013 thì hộ gia đình ông Th1 đang sử dụng diện tích, kích thước đúng như diện tích, kích thước được tạm giao cho ông B năm 1996. Vì vậy, không có cơ sở khẳng định ông Th1có hành vi lấn chiếm đất công 14,3m2 được quy hoạch làm ngõ đi. Ngày 29/11/2011, Ủy ban nhân dân huyện D ban hành Quyết định số 596/QĐ-UBND thu hồi 14,3m2 giáp thửa đất số 151, buộc ông Th1 tháo dỡ công trình đã xây dựng trên đất mà không bồi thường về đất và tài sản trên đất cho hộ gia đình ông Th1là không đúng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông Th1. Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy Quyết định số 596/QĐ-UBND về phần này là có căn cứ.

[7] Đối với thửa đất số 201 và thửa đất số 202:

[8] Cụ Nguyễn Văn Ph (cha của ông Th1) xây kè, đổ đất và sử dụng 1 phần diện tích ao ông Trượu (đất ao công) từ khoảng năm 1987 -1988.

[9] Năm 1992, ông Th1 được Ủy ban nhân dân xã C hợp thức hóa phần diện tích 115m2 đất thuộc khu vực gia đình đang sử dụng theo Quyết định số 63/QĐ-UB ngày 01/03/1989 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Sơn Bình (cũ). Ông Th1cho rằng phần đất này ông được cụ Ph tặng cho bằng miệng, còn phần đất ông được cấp là thuộc thửa đất số 202 nhưng ông Th1 không xuất trình được chứng cứ chứng minh. Ngày 22/3/2004, Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Th1với thửa đất số 201, diện tích 118,9m2; còn thửa đất số 202 đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo bản đồ năm 2002 thì diện tích đất 99 m2 thuc thửa số 202 đứng tên ông Nguyễn Văn Th2 (em trai ông Th1); phần diện tích đất này chính là phần còn lại của tổng diện tích mà cụ Ph đã xây kè bao chiếm từ năm 1987-1988 trừ đi phần diện tích mà Uỷ ban nhân dân xã C đã cấp cho ông Th1. Theo sơ đồ do Tòa án nhân dân huyện D lập ngày 10/7/2013, Thửa đất số 202 có diện tích 112,2m2, nhiều hơn so với diện tích 99m2 được ghi trong Trích lục Bản đồ 2002 là 13,2m2. Do vậy, Uỷ ban nhân dân huyện D thu hồi diện tích này để quy hoạch làm ngõ đi chung là có cơ sở.

[10] Tuy nhiên, ông Th1 xây dựng các công trình trên đất không có giấy phép, không bị xử lý vi phạm về hành vi lấn, chiếm đất, xây dựng công trình trái phép; chính quyền địa phương biết và cũng không ban hành văn bản xử lý vi phạm nên cần phải làm rõ trong trường hợp này thì hộ gia đình ông Th1 khi bị thu hồi đất có được bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản trên đất hay không?

[11] Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông Th1 và Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng trong quá trình sử dụng thửa đất số 202, gia đình ông Th1 không có tranh chấp với ai và cũng không bị xử lý vi phạm hành chính do hành vi lấn, chiếm đất, ngoài việc đo vẽ năm 2002 có hình thành khoảng trống được coi là ngõ thì không còn căn cứ nào khác để xác định ở vị trí này đã được quy hoạch làm ngõ đi chung nên xác định gia đình ông Th1 không có hành vi lấn, chiếm đất công là chưa phản ánh đầy đủ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên hủy Quyết định số 596/QĐ-UBND ngày 29/11/2011 của Uỷ ban nhân dân huyện D về lý do này là chưa đảm bảo chặt chẽ.

[12] Trên thực tế lối đi chung giữa các thửa đất mà hộ gia đình ông Th1 đang quản lý, sử dụng với các thửa đất liền kề chưa được quy hoạch bởi cấp có thẩm quyền mà mới chỉ được thể hiện trong Bản đồ địa chính đo vẽ năm 2002 nêu trên. Hiện nay các hộ dân tại xóm A, thôn B tiếp tục có khiếu nại. Trong trường hợp này cần thiết phải tổ chức để cho các bên đối thoại, làm rõ các vấn đề nêu trên thì mới đảm bảo giải quyết vụ án đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 272, Điều 274 Luật tố tụng hành chính năm 2015;

1. Chấp nhận Kháng nghị số 02/2019/KN-HC ngày 18/01/2019 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;

2. Hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 63/2014/HCPT ngày 29/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2013/HCST ngày 24/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện D, thành phố Hà Nội, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.


Lược đồ:












LINK DOWNLOAD




M_tả

M_tả

SÁCH - Giáo trình triết học - Đào tạo sau đại học (Nguyễn Văn Tài & Phạm Văn Sinh Cb) Full



Giáo trình triết học : dùng trong đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ các ngành khoa học xã hội và nhân văn không chuyên ngành Triết học


Thực hiện thông tư số 08/2013/TT-BGDĐ ngày 08/03/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo về việc ban hành chương trình môn Triết học khối không chuyên ngành triết học trình độ đào tạo thạc sĩ Tiến Sĩ;  căn cứ quyết định số 2511/QĐ-BGDĐT ngày 18/07/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt giáo trình môn Triết học của trường không chuyên ngành triết học trình độ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ các ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo sản xuất bản Đại học Sư phạm xuất bản giáo trình triết học để phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của học viên cao học và nghiên cứu sinh các ngành Khoa học Xã hội  và Nhân văn không thuộc chuyên ngành triết học.



Giáo trình triết học : dùng trong đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ các ngành khoa học xã hội và nhân văn không chuyên ngành Triết học


Thực hiện thông tư số 08/2013/TT-BGDĐ ngày 08/03/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo về việc ban hành chương trình môn Triết học khối không chuyên ngành triết học trình độ đào tạo thạc sĩ Tiến Sĩ;  căn cứ quyết định số 2511/QĐ-BGDĐT ngày 18/07/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt giáo trình môn Triết học của trường không chuyên ngành triết học trình độ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ các ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo sản xuất bản Đại học Sư phạm xuất bản giáo trình triết học để phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của học viên cao học và nghiên cứu sinh các ngành Khoa học Xã hội  và Nhân văn không thuộc chuyên ngành triết học.




M_tả

M_tả

SÁCH - Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí giáo dục (Trần Kiểm) Full



Nội dung của cuốn sách Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục là cơ sở nền tảng để học tập, chỉ đạo, nghiên cứu các chuyên ngành Giáo dục học và Quản lý giáo dục. Cuốn sách này giúp ta nắm được những hiểu biết chung về phương pháp luận Macxit, tư tưởng Hồ Chí Minh, các cách tiếp cận hiện đại như sơ đồ PERT, 5 tiêu chuẩn SMART, thang bậc nhu cầu do Maslow đề ra, các giá trị ảnh hưởng đến đời sống tình cảm – xúc cảm của người quản lysdo Herzberg đề xuất, quanrlys theo chất lượng “tiêu chuẩn TQM”, ISO 9000, vòng tròn Deming. Hệ thống khái niệm trong tác phẩm này được trình bày khá cặn kẽ đầy đủ; đặc biệt, nhiều khái niệm, thuật ngữ được tóm tắt trong các bảng, các sơ đồ, mở đầu bằng sơ đồ “Các yếu tố quản lí giáo dục”, bảng “Cơ cấu nội dung Khoa học QLGD”, “Hệ thống QLGD”, “Chu trình quản lí”…rồi sơ đồ “Lập kế hoạch chiến lược”, “Hoạch định”, “Ra quyết định”, “Quản lý nhân sự”…, nhất là sơ đồ “các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế QLGD”, “bộ ba văn hóa quản lý”, “Mô hình Likert”, “Sản phẩm của nhà trường theo ba cấp độ”…



Nội dung của cuốn sách Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục là cơ sở nền tảng để học tập, chỉ đạo, nghiên cứu các chuyên ngành Giáo dục học và Quản lý giáo dục. Cuốn sách này giúp ta nắm được những hiểu biết chung về phương pháp luận Macxit, tư tưởng Hồ Chí Minh, các cách tiếp cận hiện đại như sơ đồ PERT, 5 tiêu chuẩn SMART, thang bậc nhu cầu do Maslow đề ra, các giá trị ảnh hưởng đến đời sống tình cảm – xúc cảm của người quản lysdo Herzberg đề xuất, quanrlys theo chất lượng “tiêu chuẩn TQM”, ISO 9000, vòng tròn Deming. Hệ thống khái niệm trong tác phẩm này được trình bày khá cặn kẽ đầy đủ; đặc biệt, nhiều khái niệm, thuật ngữ được tóm tắt trong các bảng, các sơ đồ, mở đầu bằng sơ đồ “Các yếu tố quản lí giáo dục”, bảng “Cơ cấu nội dung Khoa học QLGD”, “Hệ thống QLGD”, “Chu trình quản lí”…rồi sơ đồ “Lập kế hoạch chiến lược”, “Hoạch định”, “Ra quyết định”, “Quản lý nhân sự”…, nhất là sơ đồ “các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế QLGD”, “bộ ba văn hóa quản lý”, “Mô hình Likert”, “Sản phẩm của nhà trường theo ba cấp độ”…




M_tả

M_tả

NGHỊ ĐỊNH 86/2018/NĐ-CP QUY ĐỊNH VỀ HỢP TÁC, ĐẦU TƯ CỦA NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC (Full)

 


CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 86/2018/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2018

 

NGHỊ ĐỊNH

QUY ĐỊNH VỀ HỢP TÁC, ĐẦU TƯ CỦA NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009;

 


CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 86/2018/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2018

 

NGHỊ ĐỊNH

QUY ĐỊNH VỀ HỢP TÁC, ĐẦU TƯ CỦA NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009;




M_tả

M_tả

THÔNG TƯ 32/2018/TT-BGDĐT BAN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG (Full)

 


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 32/2018/TT-BGDĐT

Nội, ngày 26 tháng 12 năm 2018

 

THÔNG TƯ

BAN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009;

Căn cứ Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Nghị quyết số 51/2017/QH14 ngày 21 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội điều chỉnh lộ trình thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới theo Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông;

 


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 32/2018/TT-BGDĐT

Nội, ngày 26 tháng 12 năm 2018

 

THÔNG TƯ

BAN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009;

Căn cứ Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Nghị quyết số 51/2017/QH14 ngày 21 tháng 11 năm 2017 của Quốc hội điều chỉnh lộ trình thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới theo Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông;




M_tả

M_tả

EBOOK - Learning Vocabulary in Another Language - Full Edition (I. S. P. Nation)



Học từ vựng trong một ngôn ngữ khác (I. S. P. Nation)


Vocabulary is now well recognized as an important focus in language teaching and learning. Now in its third edition, this book provides an engaging, authoritative guide to the teaching and learning of vocabulary in another language. It contains descriptions of numerous vocabulary learning strategies, which are supported by reference to experimental research, case studies, and teaching experience. It also describes what vocabulary learners need to know to be effective language users. This new edition has been updated to incorporate the wealth of research that has come out of the past decade. It also includes a new chapter on out of-classroom learning, which explores the effect of the Internet and electronic resources on learning. This vital resource for all vocabulary researchers shows that by taking a systematic approach to vocabulary learning, teachers can make the best use of class time and help learners get the best return for their learning effort.



Học từ vựng trong một ngôn ngữ khác (I. S. P. Nation)


Vocabulary is now well recognized as an important focus in language teaching and learning. Now in its third edition, this book provides an engaging, authoritative guide to the teaching and learning of vocabulary in another language. It contains descriptions of numerous vocabulary learning strategies, which are supported by reference to experimental research, case studies, and teaching experience. It also describes what vocabulary learners need to know to be effective language users. This new edition has been updated to incorporate the wealth of research that has come out of the past decade. It also includes a new chapter on out of-classroom learning, which explores the effect of the Internet and electronic resources on learning. This vital resource for all vocabulary researchers shows that by taking a systematic approach to vocabulary learning, teachers can make the best use of class time and help learners get the best return for their learning effort.




M_tả

M_tả

QUYẾT ĐỊNH 2371/QĐ-TTg PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “ĐƯA TIẾNG ANH THÀNH NGÔN NGỮ THỨ HAI TRONG TRƯỜNG HỌC GIAI ĐOẠN 2025 - 2035, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045” (Full)





THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
-------



CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2371/QĐ-TTg

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2025

 

QUYẾT ĐỊNH

PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “ĐƯA TIẾNG ANH THÀNH NGÔN NGỮ THỨ HAI TRONG TRƯỜNG HỌC GIAI ĐOẠN 2025 - 2035, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045”

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ





THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
-------



CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2371/QĐ-TTg

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2025

 

QUYẾT ĐỊNH

PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “ĐƯA TIẾNG ANH THÀNH NGÔN NGỮ THỨ HAI TRONG TRƯỜNG HỌC GIAI ĐOẠN 2025 - 2035, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045”

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ




M_tả

M_tả

QUYẾT ĐỊNH 1400/QĐ-TTg VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN "DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN GIAI ĐOẠN 2008 - 2020" (Full)

 



THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-----------

Số: 1400/QĐ-TTg

Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2008

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN "DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN GIAI ĐOẠN 2008 - 2020"

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

 



THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-----------

Số: 1400/QĐ-TTg

Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2008

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN "DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN GIAI ĐOẠN 2008 - 2020"

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ




M_tả

M_tả

SÁCH - Thành ngữ tiếng việt (Nguyễn Lực & Lương Văn Đang) Full



Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong kho tàng từ vựng của một ngôn ngữ. Thành ngữ hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của tiếng nói dân tộc. Nó làm cho lời ăn tiếng nói giàu hình ảnh, gây ấn tượng hơn, biểu đạt ý kiến, suy nghĩ có khi tinh tế, súc tích, hay hơn. Do được hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài của dân tộc, thành ngữ là những cụm từ, những ngữ cố định có nội dung ngữ nghĩa sâu rộng nên nó cũng giữ được những khái niệm thuộc về truyền thống: cách tư duy, nhận thức về thế giới tự nhiên và đời sống xã hội, lối nói so sánh, ví von muôn màu muôn vẻ của nhân dân ta.



Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong kho tàng từ vựng của một ngôn ngữ. Thành ngữ hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của tiếng nói dân tộc. Nó làm cho lời ăn tiếng nói giàu hình ảnh, gây ấn tượng hơn, biểu đạt ý kiến, suy nghĩ có khi tinh tế, súc tích, hay hơn. Do được hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài của dân tộc, thành ngữ là những cụm từ, những ngữ cố định có nội dung ngữ nghĩa sâu rộng nên nó cũng giữ được những khái niệm thuộc về truyền thống: cách tư duy, nhận thức về thế giới tự nhiên và đời sống xã hội, lối nói so sánh, ví von muôn màu muôn vẻ của nhân dân ta.




M_tả

M_tả

EBOOK - E-Learning Ecologies - Principles for New Learning and Assessment - Full Edition (Bill Cope & Mary Kalantzis)



Hệ sinh thái học tập điện tử - Nguyên tắc cho việc học tập và đánh giá mới (Bill Cope & Mary Kalantzis)


e-Learning Ecologies explores transformations in the patterns of pedagogy that accompany e-learning—the use of computing devices that mediate or supplement the relationships between learners and teachers—to present and assess learnable content, to provide spaces where students do their work, and to mediate peer-to-peer interactions. Written by the members of the "new learning" research group, this textbook suggests that e-learning ecologies may play a key part in shifting the systems of modern education, even as technology itself is pedagogically neutral. The chapters in this book aim to create an analytical framework with which to differentiate those aspects of educational technology that reproduce old pedagogical relations from those that are genuinely innovative and generative of new kinds of learning. Featuring case studies from elementary schools, colleges, and universities on the practicalities of new learning environments, e-Learning Ecologies elucidates the role of new technologies of knowledge representation and communication in bringing about change to educational institutions.



Hệ sinh thái học tập điện tử - Nguyên tắc cho việc học tập và đánh giá mới (Bill Cope & Mary Kalantzis)


e-Learning Ecologies explores transformations in the patterns of pedagogy that accompany e-learning—the use of computing devices that mediate or supplement the relationships between learners and teachers—to present and assess learnable content, to provide spaces where students do their work, and to mediate peer-to-peer interactions. Written by the members of the "new learning" research group, this textbook suggests that e-learning ecologies may play a key part in shifting the systems of modern education, even as technology itself is pedagogically neutral. The chapters in this book aim to create an analytical framework with which to differentiate those aspects of educational technology that reproduce old pedagogical relations from those that are genuinely innovative and generative of new kinds of learning. Featuring case studies from elementary schools, colleges, and universities on the practicalities of new learning environments, e-Learning Ecologies elucidates the role of new technologies of knowledge representation and communication in bringing about change to educational institutions.




M_tả

M_tả

TỔNG HỢP TÀI LIỆU - Nội dung về chính sách công của các quốc gia (Update liên tục)




M_tả

M_tả

C. Bài giảng xã hội